"Cái cây tìm sự cô đơn ở trên cao/Ngọn cỏ tìm sự đông đảo ở dưới đất".
Sau chuyến đi “tận mục sở thị” 2 khu chung cư đã từng được bán với giá 2,5-3 triệu đồng/m2 “mà ở một năm vẫn còn tốt”, Bộ trưởng Xây dựng Nguyễn Hồng Quân tuyên bố: “Nhà 200 triệu đồng/căn hoàn toàn có thể triển khai trên thực tế”. Chuyến đi cho thấy, Bộ đã rất khéo léo đặt các nhà báo và quan chức trước một ví dụ khá “trực quan”, nhất là trong tình trạng đang có nhiều nghi ngại tính khả thi của chương trình nhà ở xã hội, nhà ở giá rẻ mà Bộ vừa khởi xướng.
“Giải ngân” 49.000 tỷ đồng không phải là vấn đề quá khó. Các doanh nghiệp nhà nước, các tổng công ty trực thuộc Bộ vẫn đang còn chờ đợi quyết định cuối cùng. Vấn đề là ai sẽ ở trong những căn hộ được xây tại những vùng “sơn cước” ấy. Hai khu “chung cư thương mại”- có giá bán “như ý” của Bộ Xây dựng- nói trên, một nằm tại Xuân Mai và một nằm tại Vĩnh Yên. Xuân Mai tuy bây giờ đã thuộc về Thủ đô nhưng vẫn phải mất vài giờ để chạy xe từ… Hà Nội lên. Những “thị dân” đang làm việc ở Thủ đô liệu có mua nhà ở Vĩnh Yên hay Xuân Mai. Những “nông dân Thủ đô”, đang sống quanh Vĩnh Yên, Xuân Mai, nếu có 200 triệu liệu có chọn mua một “cái hộp 50m2” trong những khu chung cư rẻ tiền hay sẽ tìm mua một căn nhà vườn nho nhỏ.
Vấn đề, không đơn giản là thiếu những khu chung cư mà là giá nhà đất đã tăng nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng thu nhập của phần lớn người dân. Trong khi, một số ít người có thể mua 2-3 căn nhà, bỏ không chờ giá lên, thì thu nhập của đa số dân chúng không với tới một căn nhà 200 triệu. Ngay cả trong những ngày khủng hoảng, những tòa biệt thự, những căn hộ cao cấp ở Hà Nội, TP HCM vẫn bán được. Nhà đất, là kênh tốt nhất để “xử lý” tiền bạc của một bộ phận, đặc biệt là bộ phận có cơ hội “tích lũy tư bản” từ tham nhũng.
Ở nhiều nước, thuế nhà đất là nguồn thu hết sức quan trọng của địa phương, với mức thuế vào khoảng trên dưới 1%/năm tính trên giá trị của căn nhà trong khi chúng ta chỉ áp dụng một mức thuế khá là hình thức. Vào hoàn cảnh của Việt Nam, có thể Nhà nước không đánh thuế căn nhà thứ nhất, hoặc không đánh thuế những người chỉ có nhà ở với diện tích hoặc có giá trị trung bình. Nhưng nếu không đánh thuế những người có căn nhà thứ 2 trở đi thì tình trạng đầu cơ địa ốc là không thể nào tránh được. Ví dụ, một người có 2 căn biệt thự ở Phú Mỹ Hưng, giá một căn là 1000 lượng vàng. Họ có thể sẽ chịu thuế 1% ở căn thứ nhất cho phần “xa xỉ”, (tính trên 500 lượng giá trị cao hơn mức miễn thuế) và 1% cho căn thứ 2, tổng cộng, mỗi năm phải đóng khoảng 15 lượng vàng, gần 300 triệu đồng, một mức thuế mà nếu muốn đầu cơ thì họ phải buộc lòng cân nhắc.
Phải có chính sách thuế để tránh đầu cơ, nâng giá. Nhưng, thuế cũng không thể giữ giá nhà đất ở mức mà những người lao động bình thường có thể mua nhà, nếu không có một chính sách bắt đầu từ nhà nước. Những trung tâm thương mại, chính trị lớn như Hà Nội, chắc chắn sẽ thu hút rất nhiều lao động đủ mọi trình độ từ các địa phương xa. Giá nhà ở những trung tâm lớn, rất tiếc, lại không dễ để những người này với tới. Bây giờ thì chúng ta nhận ra, một quyết định hành chánh không thể rút ngắn đường đi giữa Xuân Mai hay Ba Vì với Hà Nội. Một nhân viên ngân hàng có trụ sở ở quận Ba Đình không thể nào sáng đi, tối về từ Xuân Mai trong điều kiện giao thông hiện nay. Nếu Bộ xây dựng cho rằng có thể giải quyết nhà ở cho người dân Thủ đô ở Vĩnh Yên hay Xuân Mai, thì thay vì vội vàng lên đấy để xây dựng những khu chung cư, cần nghiên cứu một hệ thống giao thông, sao cho: một người sống ở Xuân Mai, làm việc ở Hà Nội có thể đi xe máy tới một nhà ga xe lửa ở Xuân Mai, đi xe lửa về Cầu Giấy; từ Cầu Giấy đi xe buýt về trung tâm, sao cho thời gian đi lại mỗi ngày không dài hơn 2 giờ. Khi giao thông phát triển, không cần 49.000 tỷ từ nhà nước, những căn hộ ở Vĩnh Yên, Xuân Mai cũng sẽ được xây lên.
Trong bài “Nhà ở và nhà Nhà nước” chúng tôi đã phân tích một vài cơ chế tín dụng ưu đãi để người dân có thể mua nhà. Nếu 49.000 tỷ đồng nói trên được dùng với mục đích kích cầu thì nó phải đến tay của những người có nhu cầu mua nhà, thay vì ưu đãi cho những “chủ thầu xây dựng”; nếu 49.000 tỷ ấy được dùng để làm chính sách thì không thể dùng nó để xây 10 nghìn căn hộ trong khi đang có hàng triệu người cần nhà. Bởi nhà nước không thể ra một chính sách mà chỉ có người nào may mắn hơn thì được hưởng. Chăm lo nhà ở cho giai cấp công nhân cũng là một chính sách tốt, nhưng, thay vì định bắt buộc các chủ doanh nghiệp, hãy trao cho họ những ưu đãi thuế và tín dụng dựa trên mức độ đầu tư nhà ở cho công nhân. Bởi, các chủ nhà máy có quyền lợi gắn với công nhân nhiều hơn là các công ty địa ốc.
Không nên kích cầu bằng mọi giá, càng trong thời điểm suy thoái, việc chi tiêu tiền bạc lại càng phải chặt chẽ hơn. Nếu thực sự nhà nước có 49.000 tỷ đồng để chi dùng trong thời điểm hiện nay thì nên tập trung cho các dự án hạ tầng. Đầu tư vào hạ tầng vừa có ý nghĩa rất thiết thực để kích cầu, vừa có thể phát huy tác dụng ngay sau khi sản xuất, kinh doanh hồi phục. Nhà ở, đặc biệt là nhà ở cho người có thu nhập thập là một chính sách lâu dài, không thể giải quyết nhà ở bằng những chương trình nhất thời. Giờ đây, nếu bơm ra 49.000 tỷ đồng có thể sẽ thấy ngay hiệu quả kích cầu, nhưng 2 năm sau, nếu những căn hộ ở Xuân Mai không bán được thì lạm phát lại xuất hiện bởi đồng tiền hôm nay đã đựơc chi ra không hiệu quả.
Huy Đức
Ngày 2-4, các nước thuộc G20 nhóm họp tại Anh. Trước đó, Osin được Đại sứ Anh, Mark A. G. Kent, mời với tư cách là một blogger, cùng với 2 nhà báo, Xuân Linh, Vietnamnet và Hồ Điệp, VOV, dưới sự chăm sóc chu đáo của người phó phát ngôn Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Nga, cũng có mặt ở London và đã phỏng vấn ông Jack Straw, Bộ trưởng cao cấp của Chính phủ Anh. Ông Jack Straw nổi tiếng như là một chính khách quốc tế khi ông đóng vai trò Bộ trưởng Ngoại giao của Anh; hiện nay, ông đang là Bộ trưởng Tư pháp. Sau đây là phần phỏng vấn của Osin.
Thưa ông, chúng ta có thể chờ đợi gì ở London G20 Summit?
Đó là sự thỏa thuận tốt hơn nữa giữa những nền kinh tế lớn của thế giới nhằm giải quyết sự đình trệ kinh tế hiện nay. Sự đình trệ này được gây ra bởi hiện tượng sụp đổ của sự tin tưởng vào hệ thống ngân hàng quốc tế trên toàn thế giới. Do đó, nó chỉ có thể được thay đổi bởi những chỉ đạo ở tầm mức quốc gia. Chúng ta đã thấy có những chỉ đạo như thế. Đó là điều tốt, nhưng mục đích của hội nghị này là đạt đến sự chỉ đạo phối hợp nhằm mưu lợi cho toàn thế giới, bất cứ nơi nào, lục địa nào.
Đấy là sự khác biệt với khủng hoảng trong những năm 30?
Năm 1930, khi đối đầu với cuộc đình trệ kinh tế ở tầm mức này, một số chính sách tương tự đã được đưa ra bởi các nền kinh tế trọng yếu của thế giới lúc đó. Nhưng sai lầm là, khi lần lượt từng quốc gia một đóng cửa, chờ đợi những biện pháp bảo trợ và làm tình hình trở nên tồi tệ hơn, gây nên những căng thẳng giữa các quốc gia, dẫn đến chiến tranh Thế giới Lần thứ II. Chúng ta muốn học bài học đó.
Nói là G20 Summit, nhưng có vẻ như cuộc gặp được chờ đợi nhất ở London là giữa ông Obama và Hồ Cẩm Đào?
Tôi nghĩ việc hai ông Hồ (Cẩm Đào) và Obama gặp nhau là một điều tốt và chắc chắn rằng nếu chúng ta không có sự nhập cuộc của Trung Quốc và Mỹ thì các sáng kiến quốc tế sẽ rất giới hạn.
Chính vì thế, nhiều nhà quan sát nói, ở cuộc gặp này, G20 nên gọi là G2, ông nghĩ gì khi ý tưởng G2 trở thành sự thật?
Tôi không nghĩ là có một nhóm gọi là G2, đấy đơn giản chỉ là quan hệ song phương. Trong thời chiến tranh lạnh, đã có nhóm G2, giữa Mỹ và Liên Xô. Nhưng đương nhiên, đã có nhiều quốc gia khác có vai trò tháo gỡ những căng thẳng này. G20 hội tụ những nền kinh tế trọng yếu và tất cả những quốc gia khác phục thuộc vào sự tồn vong của chúng. Đừng quên rằng Trung Quốc và Mỹ không chỉ giao dịch thương mại với nhau mà còn với các quốc gia khác.
Những động thái gần đây cho thấy người Mỹ đang tập trung cho mối quan hệ với người Trung Hoa?
Đó là điều tốt. Kinh tế Mỹ và Trung Quốc phụ thuộc lẫn nhau, nếu chúng ta nhìn vào quan hệ mậu dịch của Trung Quốc và Mỹ. Trung Quốc sở hữu một lượng dự trữ tiền tệ nước ngoài lớn bằng đồng đô-la. Do đó quyền lợi trực tiếp của Trung Quốc gắn liền với sự lành mạnh của nền kinh tế Mỹ.
Ở đây, thưa ông, không chỉ về kinh tế?
Vâng, có những quyền lợi khác nữa.
Lịch sử, đặc biệt là kể từ sau năm 1972, dạy chúng ta bài học, khi người Mỹ và Trung Quốc bắt tay với nhau, quyền lợi của các quốc gia nhỏ có thể bị bỏ rơi và thường thì các quốc gia có liên quan trong khu vực có thể sẽ phải trả giá đắt. Ông có quan tâm về điều đó?
Điều tôi đặc biệt quan tâm là sự đối xử bình đẳng và điều tôi muốn nói là VN không phải là một quốc gia nhỏ. Việt Nam có 86 triệu dân, lớn hơn Anh Quốc, 60 triệu.
Tôi hiểu. Đương nhiên, chúng ta quan tâm đến quyền lợi của những quốc gia có dân số vừa như VN và Anh Quốc và làm sao để những quốc gia nhỏ cũng không bị thua thiệt, bị lấn ép. Điều này quan trọng không những trên phương diện đạo đức mà còn quan trọng về chiến lược và sự ổn định chính trị. Chúng ta có sự bất ổn chính trị ở những nước nhỏ, cứ nhìn Đông Timor, với rất ít dân số, nhưng đã làm đổ nát cả khu vực. Hay nhìn Bắc Ireland với 1.5 triệu người nhưng là một ám ảnh lớn của chúng tôi.
Thưa, thế giới từng thấy ông với bà Condoleeza Rice (cựu ngoại trưởng Mỹ) đã gần gũi ra sao, nay ông nghĩ gì khi thấy Dương Khiết Trì (Ngoại trưởng Trung Quốc) “chụm đầu” với bà Hillary Clinton?
(Cười) Tôi không thể nói thay cho họ. Nhưng chúng ta biết Bộ trưởng Ngoại giao và Tổng thống Mỹ đang tạo những mối quan hệ ưu tiên, quan trọng cho họ và quan trọng cho cả chúng tôi. Điều mà đôi khi người ta thường quên đi ở Âu Châu là Mỹ có hai bờ biển, Tây và Đông. Trong giai đoạn nào đó, Âu Châu đã thống trị thế giới như một đế chế. Nhiều người nghĩ rằng thế giới bắt đầu và kết thúc ở Âu Châu, điều này không đúng vì chúng ta đã trở nên phụ thuộc lẫn nhau. Nếu bạn là một nhà xuất khẩu lớn thì bạn phụ thuộc vào chính sách kinh tế ở các quốc gia bạn xuất khẩu đến. Đây là nguyên nhân tại sao hàng triệu triệu người ở Trung Quốc đang thất nghiệp và phải trở về quê quán của họ.
Xin hỏi một câu có thể là riêng tư, ông (40 năm trước từng chống chiến tranh Việt Nam), năm 2003, đã không đồng ý với Thủ tướng Tony Blair về chiến tranh Iraq?
Vâng, tôi đã (không đồng ý) nhưng, anh biết đấy, khi ấy tôi là Bộ trưởng Ngoại Giao nên tôi đã phải trình bày quan điểm của Chính phủ và tranh luận cho cuộc chiến tranh này ở Liên hiệp quốc và cả ở Quốc hội Anh.
Vâng, tôi có thể cho anh xem đây.
[Khi đến Việt Nam, ông dùng câu tục ngữ của người Việt “đục nước béo cò” để nói về sự minh bạch], vấn đề tham nhũng của nước Anh là gì, thưa ông?
Chúng tôi đã có luật chống hối lộ. Chúng tôi có thông luật, có luật tục (customary law). Nhưng,chúng khá phức tạp, do đó chúng tôi đã làm sáng tỏ hơn về các mức độ phạm tội này và cũng qui định tội phạm cho việc hối lộ quan chức nước ngoài. Nếu Kara (bà Phó đại sứ tại Việt Nam, có mặt trong cuộc phỏng vấn-HĐ) cố gắng để hối lộ ai đó ở Việt Nam, bà ta sẽ bị bỏ tù.
Phó thủ tướng Việt Nam, ông Trương Vĩnh Trọng, đầu tháng Tư sẽ tới Anh trong khuôn khổ một chuyến thăm tìm hiểu về cải cách tư pháp, thưa, ông dự định sẽ chia sẻ những kinh nghiệm gì?
Tôi nghĩ rằng việc nói cho đại diện của một chính quyền nước ngoài cái họ cần làm là điều không nên và tôi không bao giờ làm thế. Tốt hơn là nên chia sẻ kinh nghiệm. Chúng tôi có hệ thống tư pháp rất độc lập và hồi chiều nay (25-3) họ đã có một tuyên bố phê phán các chính sách của tôi. Họ nói tôi hạn chế thẩm quyền và tự do của họ để tuyên phạt bất cứ bản án nào họ muốn đối với tù nhân. Họ có suy nghĩ rất độc lập. Huấn luyện về pháp lý rất quan trọng. Chúng tôi bỏ nhiều tiền cho việc huấn luyận pháp lý. Với văn hóa pháp lý cũng thế. Họ rất độc lập mà hoàn toàn công minh. Tuyệt đối không có tham nhũng. Ý tưởng hối lộ thẩm phán hoàn toàn không nghe đến, và điều này rất quan trọng đối với người dân.
Vốn xuất thân là một người cánh tả, theo ông, nhà nước pháp quyền có thể áp dụng được ở Việt Nam và Trung Quốc?
Mỗi quốc gia muốn vận hành thực sự đều phải có hệ thống pháp quyền hữu hiệu. Pháp quyền có nghĩa là mọi người trong cùng một hoàn cảnh đều có cùng một quyền hạn bất kể họ có tiền hay có bạn bè trong chính quyền. Sự bình đẳng trước pháp luật và niềm tin của công chúng vào hệ thống pháp lý, một hệ thống pháp lý hữu hiệu, một hệ thống sẵn sàng thách thức những quyết định của những người có quyền, đặc biệt là các bộ trưởng. Những quyết định, hoặc sự thất bại của các bộ trưởng trong việc đưa ra quyết định, đều bị thử thách trước tòa. Những quốc gia mong muốn phát triển kinh tế đến tầm mức cao cần có hệ thống pháp quyền. Pháp quyền cũng là một bộ phận tuyệt đối thiết yếu của sự ổn định chính trị. Những quốc gia như Trung Quốc và Việt Nam, nay, có thể làm điều này trong vài thập niên thay vì vài thế kỷ (như chúng tôi). Và, sự tiến triển và kết quả của nó là rất quan trọng.
Huy Đức thực hiện (cám ơn Trần Lệ Thùy, đang nghiên cứu ở Oxford, đã giúp làm công việc vất vả nhất là gỡ băng khi tôi đang ngồi trên máy bay)
“Nhà ở xã hội” trở thành tin trang nhất trên các báo ra ngày 15-3. Chương trình được nói là sẽ cung cấp nhà ở cho sinh viên, công nhân và những người có thu nhập thấp. Liệu một chính sách như vậy có thể “đi vào cuộc sống” khi mà rất nhiều dữ kiện và bài học chưa được phân tích tới nơi. Vì đây là một quyết định sử dụng nhiều tiền bạc của dân nên cho dù đã được ủng hộ trong vài cuộc họp, cảnh báo tiếp tục, tôi nghĩ, vẫn là việc rất cần.
Dự án 200 nghìn căn thuộc chương trình nhà ở xã hội, nếu được thực hiện, chắc chắn, sẽ có tác dụng “kích cầu”. Ít nhất là ở khía cạnh tiêu thụ một khối lượng sắt, thép, xi- măng khổng lồ và thu hút hàng trăm nghìn công nhân xây dựng. Những doanh nghiệp được “chỉ định” thực hiện dự án cũng sẽ là những địa chỉ được hưởng lợi đầu tiên vì họ được quyền quyết định giá bán các căn hộ sao cho đảm bảo cho mình “10% lợi nhuận”. Vấn đề là chưa biết nhà nước sẽ lấy “đất sạch” từ đâu để giao cho các doanh nghiệp này xây dựng.
Tuy nhiên, “sản phẩm” mới là câu chuyện phải bàn. Cho dù: được miễn tiền sử dụng đất; được phép tăng mật độ xây dựng, hệ số sử dụng đất 1,5 lần; được áp dụng thuế suất VAT là 0%... Giá thành, theo ước tính của Bộ Xây dựng, “không quá” 7 triệu đồng/m2, khiến cho giá một căn hộ loại nhỏ nhất, 30m2, cũng lên tới hơn 200 triệu. Trong khi, đối tượng mà chương trình này nhắm đến là “3 triệu sinh viên đại học; 2,5 triệu lao động ở 194 KCN” mà theo Bộ Xây dựng, mới “chỉ có khoảng 20% có nhà ở với 2% được ở trong các nhà trọ đàng hoàng...” Liệu công nhân KCN, có thể mua nhà 200 triệu đồng hay bỏ ra một khoản tiền, nếu tính đủ phải hơn 2 triệu/tháng, để thuê nhà xã hội?
Một trong những điều kiện thắng lợi của chính sách kích cầu là phải biết rõ đường đi của từng đồng bạc và tốt nhất là đồng tiền ấy được đưa thẳng tới người tiêu dùng. Nhà ở cho công nhân trong các nhà máy, trong các KCN lẽ ra phải được quan tâm từ lâu và nó, vừa phải nhất quán vừa phải được thể hiện đồng thời trong nhiều chính sách. Không chỉ có người lao động, các “ông chủ” của họ cũng có quyền lợi và sẽ tích cực xây nhà ở cho công nhân nếu: những khoản đầu tư này được khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp; được tài trợ lãi suất từ các quỹ tín dụng đầu tư… Không thể nghĩ về căn hộ cho công nhân KCN một cách quan liêu. Công nhân đang phải sống khoảng 10 người trong một căn phòng rất nhỏ.
Với khu vực viên chức, giáo viên, lực lượng vũ trang… nên tính vào lương một cách rõ ràng phần nhà. Họ xứng đáng có một chỗ ở đàng hoàng chứ không phải là “đối tượng” để nhà nước “chăm lo” bằng các loại “nhà xã hội”. Lương tối thiểu hiện nay tuy mới được “nâng lên” cũng chỉ đạt… 540.000 đồng/tháng, trong đó, “cơ cấu tiền nhà” là 40.550 đồng. Một sinh viên đại học mới ra trường, được hưởng hệ số lương là 2.0, “tiền nhà” có ở trong lương chỉ là 81.100 đồng. Không có loại “nhà ở xã hội” nào có thể cho thuê với mức tiền ấy. Không thể cơ cấu “tiền nhà” cho những người hưởng lương mà khoản tiền ấy không thể thuê được ngay cả nhà cho những người nghèo nhất trong xã hội.
Trong những thập niên trước, chính sách nhà ở bao cấp đã bù đắp cho chế độ tiền lương bất hợp lý. Tuy nhiên, không phải người hưởng lương nào cũng được cấp nhà, do đó, trong khi phần lớn công chức không thể dùng lương để trang trải tiền nhà thì một phần lớn khác được lợi hàng trăm, hàng nghìn lượng vàng do chênh lệch thị trường của “nhà hóa giá”. Bài học mà đến bây giờ chưa giải quyết xong ấy rất cần được xem lại khi định tiếp tục bao cấp để đưa ra những căn nhà giá thấp so với thị trường rồi sử dụng các biện pháp hành chính như là cấm mua bán hay sang nhượng… Trong thập niên 90, những chính sách ấy đã từng được áp dụng với “nhà hóa giá” để rồi phải bãi bỏ vì không phù hợp với thị trường và trái với tinh thần của Bộ Luật Dân sự.
Nhà nước tham gia thị trường nhà ở bằng cách “tăng cầu” và lấp đầy những thị phần mà tư nhân không muốn đầu tư là cần thiết. Theo Bộ Xây dựng, mỗi năm diện tích nhà ở tăng lên khoảng 30 triệu m2; năm 2008, diện tích nhà ở tăng lên gần 50 triệu m2, nhưng không có loại nhà ở cho người thu nhập thấp. Trong khi, Phú Mỹ Hưng đầu tư những căn hộ rộng hơn 100m2, bán với giá 30-50triệu/m2. Nhà nước có thể cung ứng những căn hộ 30 hoặc 50 m2: những căn hộ cho người độc thân, cặp vợ chồng mới cưới (studio); những căn hộ chỉ có 1 phòng ngủ hoặc 2 phòng ngủ…
Những chương trình lớn cũng đòi hỏi phải tính đến tác động về sau, không để mục tiêu trước mắt là hạ giá thành, để tăng mật độ xây dựng rồi tạo ra những “khu ổ chuột cao tầng” cho thế hệ con em gánh chịu. Ngay từ thập niên 70, 80, khi kinh tế còn khó khăn, Singapore phải xây những căn hộ nhỏ, và họ đã thiết kế tòa nhà để sao cho khi kinh tế khá hơn, 2 hoặc 3 căn hộ cũ có thể “trổ tường” tạo ra một căn hộ mới có diện tích phù hợp với hoàn cảnh mới của các gia đình và sự đi lên của đất nước.
Sự hồi phục của thị trường nhà đất là một tín hiệu vô cùng quan trọng. Ngày 23/6/2008, khi tiếp Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại Washington, DC, cựu chủ tịch cục Dự trữ Liên bang Mỹ, ông Alan Greenspan cho rằng kinh tế chỉ phục hồi khi chiều hướng suy giảm giá trị nhà đất bị chặn lại. Ông Greenspan khi ấy nói về kinh tế Mỹ nhưng phân tích của ông về mối liên quan giữa thị trường địa ốc và kinh tế nói chung cũng có giá trị cho cả nền kinh tế Việt Nam. Thị trường địa ốc muốn đi lên thì phải được tác động cả cầu lẫn cung. Cung ứng nhà giá rẻ, nhằm bổ sung một “phân khúc” mà tư nhân thường bỏ qua là điều mà nhà nước nên ra tay. Nhưng, thay vì dùng các mệnh lệnh hành chánh để đưa giá xuống một cách bất thường, nên tạo cầu tự nhiên bằng cách cải cách tiền lương, hoặc có chính sách tín dụng hợp lý để các đối tượng mà chính sách này nhắm tới có thể tiếp cận được nhà “chính sách”.
Bàn tay của nhà nước cũng cần được dùng trong những tình huống mà thị trường cần. Nhưng nếu bàn tay ấy vẫn để lại dấu vết ngay cả khi thị trường đã trở lại bình thường rồi thì hậu quả mới xuất hiện cũng sẽ vô cùng nghiêm trọng.
Huy Đức